chien tranh tinh bao

Trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam, ngoài đưa lực lượng vào can thiệp, tập kích đường biển, đường không, Mỹ còn sử dụng một loại chiến tranh khác có tên gọi Chiến tranh “không quy ước”. Lực lượng thực hiện là Cục tình báo Trung ương Mỹ (CIA) và sau đó được chuyển cho (SOG). Vậy diễn biến của loài hình chiến tranh này là thế nào? Tri thuc Online xin giới thiệu tới độc giả loạt bài hồ sơ cuộc chiến tranh “không quy ước” mà CIA trực tiếp tiến hành chống phá Việt Nam:

>> Xem cuộc chiến tranh không qui ước Phần 2

>> Xem cuộc chiến tranh không qui ước Phần 3 

Cuộc chiến tranh tình báo và những ý tưởng ban đầu

Trước khi Mỹ sử dụng quân biệt kích “Mũ nồi xanh” (Special Forces) và Người nhái Hải quân (Navy Seals) để huấn luyện, làm cố vấn cho Việt Nam cộng hòa thực hiện những phi vụ bí mật của “chiến tranh không quy ước” thì từ năm 1957 họ đã huấn luyện cho Sài Gòn lực lượng làm nhiệm vụ đặc biệt.

Năm 1957, chính quyền Eisenhower tài trợ cho quân đội Sài Gòn chương trình bí mật. Theo đó, Trung ương tình báo CIA và Bộ Quốc phòng Mỹ phối hợp để thành lập cho quân đội Sài Gòn một đơn vị biệt kích lấy tên là Liên đoàn quan sát số 1. Đơn vị này có nhiệm vụ bí mật xâm nhập vào hàng ngũ quân đối phương nắm tin, chống phá.

dai ta nguye quan le quang tung
Đại tá Lê Quang Tung – Tư lệnh LLĐB – QLVNCH

Để giữ bí mật, Liên đoàn quan sát số 1 do Ban Nghiên cứu điều hành (thuộc ngành tình báo của Bộ Quốc phòng quản lý), về sau đổi tên là Phòng Liên lạc Phủ Tổng thống, đặt dưới sự theo dõi trực tiếp của Tổng thống Ngô Đình Diệm, do Trung tá đặc vụ Lê Quang Tung làm trưởng phòng.

Năm 1958, cơ quan CIA tại Sài Gòn thành lập Ban Ngoại vụ do Russell Miller, núp dưới bóng một nhà ngoại giao làm trưởng ban. Russell lệnh cho Trung tá Tung chọn lực lượng. Ít lâu sau, 12 sĩ quan trẻ cấp bậc từ thiếu úy đến trung úy được điều về và đặt dưới quyền chỉ huy của Đại úy Ngô Thế Linh. Tháng 11/1958, cả 12 sĩ quan trẻ đều được đưa sang Saipan để huấn luyện. Ở đó, họ được CIA huấn luyện hai tháng về nghiệp vụ tình báo, tác chiến, phương thức phá hoại và chỉ huy đường dây tình báo. Cuối 1958, Đại úy Ngô Thế Linh trở về Sài Gòn và được bổ nhiệm làm Trưởng phòng Bắc Việt (mật danh là Phòng 45), trực thuộc Phòng Liên lạc Phủ Tổng thống, quân số chỉ có hơn chục người. Trong những tháng còn lại của năm 1958, Phòng 45 chuyên lo việc huấn luyện cho nhân viên mới.

Đến giữa năm 1959, một nhóm 5 sĩ quan khác được đưa sang Saipan huấn luyện 6 tuần. Sau đó ít lâu, CIA cử nhân viên đến Sài Gòn huấn luyện hai khóa trong năm, mỗi khóa huấn luyện kéo dài 12 tuần. Lần này, chương trình huấn luyện nhắm vào những sĩ quan trẻ miền Bắc, có gốc là dân tộc thiểu số. Khóa huấn luyện kéo dài đến cuối năm 1959.

Những đứa Con cưng của “chiến tranh không quy ước”

Thời gian sau, Trung úy Đỗ Văn Tiên (mật danh Francois) nhận lệnh phái một điệp viên đơn tuyến xâm nhập miền Bắc. Francois tìm được một người thích hợp là Phạm Chuyên, nguyên là một Đảng viên biến chất, quê ở tỉnh Quảng Ninh. Chuyên bị vợ bỏ nên anh ta di cư vào Nam. Thoạt đầu Phạm Chuyên từ chối, dù Trung tá Lê Quang Tung đã cho đàn em theo dõi, dụ dỗ suốt nửa năm trời. Cuối cùng, sau 6 tháng cộng tác với Edward Reagan, nhân viên của CIA, họ đã thuyết phục Chuyên.

Trong lúc Chuyên được huấn luyện các kỹ năng thì Trung úy Tiên và Reagan bận rộn phác thảo kế hoạch đưa điệp viên xâm nhập miền Bắc. Theo kế hoạch, Chuyên sẽ nằm vùng dài hạn ở tỉnh Quảng Ninh, một tỉnh ven biển Bắc Bộ, nơi Chuyên rất quen thuộc. CIA cho rằng, việc phái Chuyên xâm nhập miền Bắc bằng đường biển là rất hợp lý. Với niềm hứng khởi ấy, hai chuyên viên tình báo bay ra Đà Nẵng tìm địa điểm xuất phát. Họ thuê một biệt thự kín đáo, có tường bao quanh làm mật cứ.

Trước khi Chuyên được gửi đi, Phòng 45 quyết định triển khai kế hoạch ngắn hạn: Thả điệp viên đến khu phi quân sự, dọc theo vĩ tuyến 17 để thăm dò. Nhân vật được chọn là Vũ Công Hồng (mật danh là Hirondelle).

Điệp viên Phạm Chuyên
Điệp viên CIA Phạm Chuyên (Bí danh Ares)

Hồng được huấn luyện cấp tốc và đưa ra sống tại căn nhà được bảo vệ rất nghiêm mật ở Huế. Thiếu tá Trần Khắc Kính có mật danh là Atlantic, người của Phòng Liên lạc Phủ Tổng Thống chỉ đạo mọi hoạt động xuất phát từ Huế. Sau khi thả qua sông Bến Hải, vài tuần sau, Vũ Công Hồng trở về căn cứ. Hắn cung cấp một ít thông tin về đường đi, nước bước của hệ thống an ninh Bắc Việt, đủ làm cho những nhân viên của Phòng 45 hứng khởi.

Hai tháng sau, Phạm Chuyên (mật danh Ares) được cử trở về miền Bắc thu thập tin tức tình báo, tuyển mộ thêm điệp viên, chuẩn bị tinh thần lót ổ nằm vùng dài hạn. Chuyên sẽ đóng vai một người đánh cá ở một làng nhỏ ở Cẩm Phả, ngay gần vịnh Hạ Long, quê hương của Chuyên trước năm 1958. CIA tính toán, sự trở về của Chuyên có thể không an toàn, nhưng bù lại Chuyên còn có gia đình, người thân, hy vọng sẽ được che chở.

Đầu tháng 4/1961, Chuyên lên tàu Nautilus 1, rời Đà Nẵng, theo hành trình hai ngày về phía Bắc, nhưng do thời tiết xấu nên phải quay trở vể nơi xuất phát. Vài hôm sau, khi thời tiết đẹp, Chuyên mới lên đường.

Sau khi vào vùng biển Quảng Ninh, Chuyên chèo chiếc thuyền nhỏ, đổ bộ lên một địa điểm gần Cẩm Phả. Chuyên đem đồ đạc, trang bị lên bờ rồi giấu ngay hai máy truyền tin. Sau khi sum họp với gia đình, Chuyên đã cố thuyết phục người em trai là Phạm Độ làm việc cho mình.

Chuyên đã nhờ người em trai quay máy truyền tin để gửi đi bức mật điện đầu tiên. Để tránh cho làn sóng bị giao thoa, Phạm Chuyên đánh tín hiệu từ bờ biển miền Bắc Việt Nam, vượt đại dương đến trạm Bugs, với mật mã do CIA đặt cho trạm viễn thông tại căn cứ quân sự ở cảng Subic, Philippin. Từ đó, bức mật điện sẽ được chuyển tiếp đến cơ quan CIA tại Sài Gòn với tên là trụ sở hãng IBM; ct N.C.. Sau này, Chuyên còn gửi thêm 22 bản báo cáo nữa trong một thời gian rất ngắn.

 Bước phát triển cuộc chiến tranh “không quy ước”

Sáng 28/1/1961, Tổng thống John F. Kenedy đã chủ trì họp Hội đồng an ninh quốc gia, thảo luận về tình hình Việt Nam. Tại đây, các đại biểu đã được nghe Lansdale, người giàu kinh nghiệm các hoạt động bí mật của Cục tình báo Trung ương (CIA) báo cáo về tình hình Nam Việt Nam với những vấn đề hết sức bi đát. Đây chính là cơ sở để đầu tháng 3/1961, John F. Kenedy yêu cầu có báo cáo về các hoạt động ngầm chống Bắc Việt Nam của CIA. Tiếp đó, Kenedy ra Chỉ thị số 28, yêu cầu CIA phải nỗ lực tiến hành hoạt động du kích ở lãnh thổ Bắc Việt Nam. Điều chú ý là, Điều 25 của chỉ thị này, cho phép cơ quan CIA sử dụng quân biệt kích “Mũ nồi xanh” (Special Forces) và Người nhái Hải quân (Navy Seals) để huấn luyện, làm cố vấn cho quân đội Việt Nam thực hiện những phi vụ bí mật.

tong thong my
Tổng Thống Mỹ JF Kennedy

Ngay sau đó, CIA thực hiện hàng loạt các hoạt động ngầm: Tuyên truyền; chiến tranh kinh tế; hành động phòng ngừa trực tiếp như phá hoại, chống phá hoại, huỷ hoại và sơ tán và hoạt động lật đổ chống lại các quốc gia thù địch, trong đó có việc trợ giúp cho phong trào kháng chiến ngầm, du kích và các nhóm tị nạn, và hỗ trợ các phần tử chống cộng tại chỗ.

Như vậy, CIA đã trở thành công cụ qua đó Hoa Kỳ có thể tiến hành các hoạt động chiến tranh không quy ước, chống các nước có tư tưởng, chế độ chính trị đối lập, đồng minh và là giải pháp thay thế trong tình huống chưa đến mức “xung đột vũ trang do lực lượng quân sự thông thường tiến hành”. CIA đã huấn luyện biệt kích và thám báo, thả vào miền Bắc Việt Nam để nhằm thu thập tin tức và xây dựng cơ sở, lực lượng phục vụ mưu đồ lớn hơn trong tương lai. Đây chỉ là phần nhỏ trong chương trình “chiến tranh không quy ước” được triển khai. Tuy nhiên, sự thành công của biện pháp này rất mù mờ.

9 giờ ngày 8/8/1961, sau hai tháng mất liên lạc, Sài Gòn lại nhận được mật điện của Phạm Chuyên. Ngày 12/1/1962, chiếc Nautilus 1 rời Đà Nẵng mang theo đồ tiếp tế cho Phạm Chuyên. Chiếc Nautilus 1 đến vịnh Hạ Long mà chẳng hề gặp bất cứ trở ngại nào, nhưng lạ là Sài Gòn mất liên lạc bằng vô tuyến điện với Phạm Chuyên lẫn Nautilus một cách bí ẩn.

Tiếp đó, vào tháng 9/1961, Phòng 45 cử điệp viên thứ 3 (mật danh Hero) xâm nhập bằng đường biển, về liên lạc với gia đình bị thất bại. Cũng trong tháng 9, điệp viên Hirondelle (Vũ Công Hồng) được lệnh xâm nhập trở lại vùng Hà Tĩnh bằng đường biển, nhưng đã không có liên lạc và cũng không trở về.

Sau nhiều ngày bặt tin về Nautilus 1 và Phạm Chuyên, Phòng 45 cho đóng chiếc tàu Nautilus 2. Họ tuyển mộ thủy thủ từ những người Bắc di cư và huấn luyện tại Đà Nẵng. Ngày 11/4/1962, chiếc Nautilus 2 rời cảng Đà Nẵng, hướng về vịnh Hạ Long. Hai ngày sau, sáu người trong số 14 thuỷ thủ đoàn xuống thuyền cao su, chở theo đồ tiếp tế cho Phạm Chuyên gồm 7 hòm sắt và 14 thùng carton được bọc kín bằng nilon. Sáu thủy thủ chèo thuyền đến một đảo nhỏ trong vịnh Hạ Long, chất hàng lên đảo rồi chặt cây che lại. Ngày 2/5/1962, họ gửi tín hiệu chỉ điểm nơi giấu hàng cho Phạm Chuyên. Ít lâu sau, Phạm Chuyên điện báo đã nhận được đồ tiếp tế, kể cả máy truyền tin cùng với máy chụp ảnh 35mm.

Trong năm 1962, danh sách các điệp viên đơn tuyến bị mất tích ngày càng dài thêm. Một điệp viên mang mật danh Triton, xâm nhập vào Hà Tĩnh bằng tàu biển trong tháng 5 cũng biến mất không tìm ra manh mối. Cuối tháng 5/1962, một điệp viên khác tên là Đặng Chí Bình mang mật danh Athena xâm nhập vùng biển Hà Tĩnh đã bị bắt sau khi thi hành một phi vụ ở Hà Nội. Điệp viên mang mật danh Wolf xâm nhập vào vùng phi quân sự, bị mất tích vào tháng 2/1963.

Mùa hè 1963, Phòng 45 chuẩn bị tiếp tế lại cho điệp viên Phạm Chuyên vào ngày 11/8/1963, nhưng không thành công, phải quay về Đà Nẵng. CIA và Phòng 45 buộc phải vạch kế hoạch xâm nhập miền Bắc bằng đường không. CIA lập ra hãng hàng không liên doanh Delaware Corporation với Việt Nam Cộng hòa, lấy tên là “Hãng hàng không Việt Nam” (VIAT), nhưng chỉ có một chiếc máy bay vận tải C47 không số, không phù hiệu đơn vị, do Thiếu tá Nguyễn Cao Kỳ chỉ huy. Thiếu úy Lò Ngân Dung, sĩ quan gốc người dân tộc Thái ở vùng Lào Cai, có mật danh là Jacques, được phép tuyển mộ lính biệt kích gồm ba quân nhân người Mường và một quân nhân người Nùng. CIA thả toán biệt kích mang mật danh Castor xuống vùng Điện Biên.

nhóm bietj kich nhay du
Một nhóm biệt kích do CIA đào tạo

Ngày 16/2/1962, tàu ngầm Catfish của Hải quân Mỹ do thám vùng biển Bắc Bộ và phát hiện trong căn cứ Quảng Khê (Quảng Bình) của Bắc Việt Nam có ba chiếc Swatow đang bỏ neo và báo về trung tâm tại thủ đô Manila, Philippin và văn phòng CIA tại Sài Gòn. CIA lập tức phác thảo kế hoạch sử dụng người nhái phá hủy những chiếc tốc đỉnh của Hải quân Bắc Việt.

Cùng thời điểm tháng 4/1962, Phòng 45 quyết định thành lập toán cảm tử quân người nhái cách đặt mìn phá tàu do Đài Loan (mật danh Vulcan) huấn luyện tại Đà Nẵng. Đúng 20 giờ 30 phút tối 29/6/1962, toán người nhái lên tàu xuất phát. Đêm hôm sau, họ đã nằm ngoài khơi hải phận Bắc Việt và tiến dần tiếp cận mục tiêu. Trước nửa đêm ngày 30, chiếc Nautilus 2 tắt cả hai máy, hạ thủy chiếc thuyền gỗ có gắn động cơ, chạy thẳng vào bờ. Toán người nhái dự tính sẽ thực thi xong phi vụ trong vòng hai giờ đồng hồ, đủ thời gian bơi vào mục tiêu đặt mìn, rồi bơi trở lại thuyền.

Khi Nguyễn Hữu Thao đang gắn quả mìn vào lườn tàu Swatow mang số hiệu 185 thì trật tay, quả mìn phát nổ, Thao chết ngay tức khắc. Kính đã đặt xong quả mìn, bơi ra xa chiếc Swatow chừng 20m, trồi lên khỏi mặt nước đúng lúc quả mìn của Thao phát nổ. Sức ép của quả mìn khiến Kính tức ngực, chân tê dại, trôi vật vờ trên mặt nước và bị lính Bắc Việt bắt.

Hải quân Bắc Việt phát hiện thấy chiếc thuyền nhỏ đợi ở ngoài xa, liền cho tàu đuổi theo. Chiếc thuyền bỏ chạy ra khơi, hướng về chiếc Nautilus 2. Khi đến được chiếc Nautilus 2, Nguyễn Chuyên trúng đạn bị thương. Sau khi đặt mìn xong, người nhái thứ ba là Nguyễn Văn Tâm bơi trở lại thuyền, rồi quả mìn thứ nhất phát nổ, chiếc thuyền vọt mất và Tâm bị bỏ rơi. Anh ta lấy một chiếc thuyền của một ngư dân, định chạy ra biển. Nhưng mới leo lên thuyền, anh ta đã rơi vào tay lực lượng tự vệ địa phương.

Căn cứ hải quân Quảng Khê lại phát nổ, chiếc Swatow 185 chìm ngay. Trong lúc hỗn loạn, chiếc Swatow 161 chạy ra biển đuổi theo chiếc thuyền gỗ và phát hiện ra chiếc Nautilus 2 và truy đuổi. Đến 6 giờ sáng hôm sau, chiếc Nautilus 2 bị trúng đạn, hỏng máy. Chiếc Nautilus 2 bị bắn chìm, 10 người nhái sống sót được chiếc Swatow 161 vớt lên, bắt làm tù binh. Chỉ có người nhái Nguyễn Văn Ngọc trốn trong chiếc tàu đang chìm. Sau khi chiếc Swatow 161 đi khỏi, anh ta trôi vật vờ qua vĩ tuyến 17, được phi cơ tuần tiễu phát hiện và cứu sống.

Ngày 21/7/1962, Hà Nội đưa toán biệt kích hải quân Sài Gòn ra xét xử công khai. Đây là lần thứ hai Bắc Việt xét xử những tội phạm là biệt kích và có kẻ đã bị phạt tù chung thân. Thất bại này khiến cho CIA mất mặt. Phải một năm sau, họ mới toan tính tổ chức tiếp những đợt tập kích phá hoại ở vịnh Bắc Bộ.

Trithuc Online (Theo Kien thuc)

Previous articleViệt nam 1948 – Dưới con mắt của phóng viên Life
Next articleCuộc chiến tranh không qui ước (p2)

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here