chien tranh viet nam

Trong hoạt động thám báo trên đường mòn Hồ Chí Minh, SOG lập ra một số căn cứ hoạt động tiền tiêu (FOB) nằm rải rác trên vùng lãnh thổ miền Nam Việt Nam để kiểm soát và hỗ trợ các toán biệt kích. Căn cứ quan trọng nhất của SOG là Khâm Đức (Khe Sanh), phụ trách phần lớn các hoạt động biệt kích bên Lào. Ngoài ra, SOG còn có các cơ sở điều phối không lưu trong hoạt động đánh phá đường mòn, Phiên hiệu của ba Trung tâm chỉ huy phía Bắc mã danh là CCN, miền Trung là CCC và phía Nam là CCS.

>> Xem Cuộc chiến tranh không qui ước Phần 1

>> Xem Cuộc chiến tranh không qui ước Phần 2

Vai trò của MACVSOG trong giai đoạn đầu chiến tranh việt nam

biet kich my
Biểu tượng của lực lượng Biệt kích SOG

Đến cuối năm 1965, SOG mới được mở rộng hoạt động thám báo sang Lào với mật danh “Shining Brass”, nhằm: Điều nghiên nắm tình hình một cách chính xác về mạng lưới đường Hồ Chí Minh và tiến hành các biện pháp ngăn chặn không cho Hà Nội sử dụng Lào làm bàn đạp để phát động các cuộc tấn công vào Nam Việt Nam. Đến năm 1967, hoạt động thám báo qua biên giới được mở rộng sang Campuchia và mang mật danh mới “Daniel Boone”. SOG (Millitary Assistance Command, Vietnam – Studies and Observation Group) còn có một bộ phận nghiệp vụ nữa giữ vai trò là người tiếp tế qua đường hàng không cho tất cả các hoạt động bí mật chống lại miền Bắc và tập trung vào đường mòn Hồ Chí Minh. Mật danh của hoạt động đường không này là “Midriff”. Bộ phận này quản lý các máy bay và trực thăng của SOG.

Theo thỏa thuận giữa Nhà Trắng với chính phủ Nam Việt Nam, SOG chỉ đóng vai trò là cố vấn, trợ giúp vật chất, huấn luyện, giúp quân đội Sài Gòn lập kế hoạch và hướng dẫn thực hiện. Cụ thể, chính phủ Sài Gòn chịu trách nhiệm tuyển dụng, sử dụng các điệp viên và trả lương còn SOG làm nhiệm vụ điều hành, huấn luyện đào tạo những gián điêp- biệt kích. Lầu Năm Góc cung cấp một khoản tài chính cho chính quyền Sài Gòn để trả lương cho các điệp viên. Song Russell đã không nhận được sự giúp đỡ từ Tổng nha kỹ thuật chiến lược Nam Việt Nam (STD). SOG vừa phải vạch kế hoạch và vừa trực tiếp tổ chức thực hiện hoạt động ngầm chống lại Bắc Việt Nam. STD chỉ cung cấp người bản xứ cho các hoạt động của SOG và tham gia một số hoạt động nhỏ lẻ khác.

Thời gian đầu, SOG sử dụng những quân nhân Mỹ tạm thời (TDY). Tư lệnh Bộ tư lệnh Thái Bình Dương thành lập đơn vị hải yểm cho ban cố vấn hải quân Mỹ ngoài Đà Nẵng 4 toán: Một là, toán sửa chữa và bảo trì; hai là, toán huấn luyện lái tàu: ba là, toán huấn luyện người nhái (SEAL); bốn là, toán biệt hải. Đến tháng 3/1964, nhân lực cho đơn vị SOG được tăng cường tạm thời 100 người, gồm 97 quân nhân và 3 viên chức.

chiên tranh việt nam
Toán nhảy có biệt danh Today, chụp ảnh cùng các HLV Mũ nồi xanh của Mỹ

Trong tháng 3/1964, chương trình huấn luyện gồm có cách mưu sinh, kỹ thuật vượt sông, chướng ngại vật, cứu thương, chiến thuật, sử dụng vũ khí, nhảy dù và thực tập. Những ứng viên – điệp viên được tuyển chọn từ các trại tị nạn những người miền Bắc di cư vào Nam và quân đội Sài Gòn. Sài Gòn cũng tìm cách tuyển dụng nhân sự từ các tù binh bị bắt trên chiến trường và trên biển. Sau khi các điệp viên biệt kích trải qua các khóa đào tạo, các lực lượng tình báo quân sự Mỹ và chế độ Sài Gòn sử dụng các máy bay đặc biệt đổ bộ nhảy dù xuống gần các địa bàn cần thâm nhập, hoặc đổ bộ bằng máy bay trực thăng. Các hoạt động trên biển, biệt kích được đổ bộ bằng xuồng cao tốc, sau đó chuyển các điệp viên lên bờ bằng các loại thuyền hoặc các tàu dân sự ngụy trang khác.

Đỉnh điểm của Cuộc chiến tình báo

Đến sau 1968, MACV-SOG đã phát triển thành một đơn vị lớn với hơn 2.000 quân Mỹ và 10.000 lính địa phương. Đáng chú ý là, trong ban an ninh của SOG có đơn vị Cảm tử quân đặc biệt (SCU). Đơn vị này làm rường cột cho những toán biệt kích SOG và Nha Kỹ thuật. SCU gồm phần lớn người thiểu số (77%). SOG còn thuê thêm một số người ngoại quốc, Việt Nam cho những nhiệm vụ khác như sửa chữa, bảo trì, thư ký hành chánh…

Mùa thu năm 1966, SOG chỉ đạo thành lập lực lượng du kích lưu động để huấn luyện, xâm nhập vào vùng địch, do thám đường mòn, tìm kiếm dấu vết, căn cứ địch, thâu lượm tin tức tình báo về những cuộc chuyển quân của địch. Khi phát giác ra nơi đóng quân của địch, toán du kích sẽ theo dõi các hoạt động, phục kích lẻ tẻ, quấy rối, đặt mìn bẫy. Trường hợp tìm thấy kho tiếp liệu, toán sẽ tìm cách phá hủy hoặc hướng dẫn phi cơ oanh kích. Đơn vị này thường hoạt động trong lòng địch một thời gian từ ba mươi đến sáu mươi ngày. Để tránh bị lộ hành tung, đôi khi phải cho đồ tiếp tế vào bom Napalm giả do khu trục cơ A1E Skyraider thả xuống trong một phi vụ oanh kích giả tạo.

Ngoài ra, Liên đoàn 5 của Lực lượng đặc biệt còn tổ chức thêm những cuộc hành quân ngoại lệ (Omega và Sigma), làm tăng thêm khả năng viễn thám, thâu lượm tin tức tình báo. Mỗi tổ chức có quân số khoảng 600 người, gồm một đơn vị viễn thám và một đơn vị xung kích tiếp ứng. Riêng hành quân Delta được đặt dưới quyền chỉ huy hỗn hợp LLĐB Việt Mỹ, theo lệnh trực tiếp của Bộ Tổng Tham Mưu quân lực VNCH và BCH Quân Viện Hoa Kỳ (MAC-V).

Tính đến năm 1967, từ khi thực hiện Kế hoạch 34A, SOG đã đưa được 4 toán xâm nhập miền Bắc để thực hiện ý đồ, gồm: Eagle, Hadley, Red Dragon và Romeo.

Toán Tourbillon do CIA tung đi ngày 16/5/1962 đã được tăng cường thêm hai lần hoạt động ở phía tây bắc Bắc Việt Nam có nhiệm vụ phá hoại và gây rối, sau chuyển sang thu thập tin tức tình báo. Nhưng SOG nhận xét là “không có tin tức tình báo có ý nghĩa nào được báo về”. Điều lạ là, mỗi khi SOG định đón toán này về thì họ đều không đến được điểm hẹn.

Tháng 8/1963, CIA thả dù toán Easy xuống Sơn La để “liên lạc với người Mèo và người Thái nhằm thiết lập vùng an toàn cho các toán khác hoạt động trong khu vực”. Toán này còn có nhiệm vụ “xác định mức độ phản kháng, trang bị vũ khí cho một số chọn lọc người thiểu số để tấn công quấy phá mạng thông tin và đường giao thông của quân đội miền Bắc” và tuyển mộ lãnh đạo người thiểu số để “đưa về Nam huấn luyện”. Tuy nhiên SOG không nhận được tin tức đáng chú ý nào, dù toán Easy đã được tăng cường thêm bốn lần với tổng số là 23 người thì kết quả vẫn không ổn. Khi được thông báo chuẩn bị trở về Nam, Easy bỗng “mất hút và ngừng mọi liên lạc”.

chien tranh viet nam
1 Toán biệt kích chuẩn bị nhảy ra Miền Bắc

Toán Remus có sáu người được thả dù ngày 16/4/1962 gần Điện Biên Phủ để “thành lập khu căn cứ cho các hoạt động thu thập tình báo”. Toán này sẽ “thu thập thông tin kinh tế, chính trị, quân sự của đối phương; xác định vị trí thả dù tiếp tế và khu vực an toàn cho các điệp viên được bổ sung thêm hay đưa về; thu thập các tài liệu và tuyển lựa cơ sở hỗ trợ, cung cấp tin”. Năm 1964, Remus báo cáo đã phá huỷ một vài chiếc cầu. Colby kể, Bộ trưởng Quốc phòng McNamara đã “phấn khích như một đứa trẻ” về tin này. Remus được bổ sung 5 lần. Năm 1967, SOG ra lệnh rút hai nhân viên của Remus về Nam. Remus từ chối với lý do việc đó quá nguy hiểm. Năm 1968, tất cả liên lạc điện đài với Remus bị ngừng trệ.

Ares là điệp viên đơn tuyến duy nhất được thả về miền Bắc từ đầu năm 1961 đã “cung cấp thông tin về các tài liệu của miền Bắc, nhà máy điện Uông Bí, đường giao thông, cầu cống, cảng Hải Phòng và các thông tin khác”. Tuy nhiên, vào năm 1966, SOG bắt đầu nghi ngờ thông tin nhận được. Khi được chỉ thị tìm địa điểm tiếp tế, Ares đề nghị các biện pháp khác để nhận. Điều này dễ làm lộ các cơ sở khác của SOG. Khi SOG có kế hoạch rút về miền Nam, Ares không tuân theo, nhưng vẫn giữ liên lạc điện đài với SOG đến năm 1968.

Những chuyến đi không vé khứ hồi

Toán Eagle được tung vào khu vực gần biên giới Trung Quốc ngày 27/6/1964. Nhiệm vụ của toán là “tiến hành phá hoại tuyên đường 1 và số 4, đường xe lửa Mục Nam Quan và căn cứ không quân Mai Pha” và thu thập tin tức tình báo về các mục tiêu trên. Theo đánh giá của SOG, “thông tin nhận được có rất ít hoặc không có giá trị”. Năm 1966, Eagle được giao nhiệm vụ theo dõi các tuyến đường. Kết quả thu được cũng tương tự. SOG đánh giá, Eagle không hoàn thành nhiệm vụ. Năm 1968, SOG chỉ thị cho toán di chuyển xuống phía nam để rút về. Eagle báo cáo không thể đến vị trí tập kết. Ngay sau đó liên lạc với toán bị cắt đứt.

Tháng 11/1965, SOG dùng trực thăng thả toán Romeo gồm mười người xuống khu vực ngay bên kia khu phi quân sự để “trinh sát địa bàn, thu thập tin tức tình báo; giám sát các tuyến đường; và tiến hành các hoạt động phá hoại, quấy rối tại đường 103, chuyên chở người và hàng hoá xuống phía Nam”. Theo tài liệu của SOG, từ giữa năm 1966 trở đi, kết quả hoạt động của toán là nghèo nàn. “Romeo không cung cấp được tin đáng giá nào trong năm 1967 và 1968”.

an ninh bac viet
Mội toán Biệt kích SOG bị bắt ở Quảng Bình

Toán Hadley cũng xâm nhập vào ngay bên kia khu phi quân sự để tiến hành theo dõi tuyến đường số 8 nối đường 15 với đường 81, 12 và 121 ở Lào và theo dõi con đường vận tải thủy chính trên sông Ngàn Phố. Đầu tiên, toán Hadley gặp một số khó khăn do bị phát hiện, nhưng sau đó đã nhanh chóng đáp lại tín hiệu liên lạc từ SOG. Tuy nhiên, Hadley cũng không cung cấp được thông tin có ích hoặc xác định được mục tiêu không kích có giá trị.

Toán Red Dragon gồm 7 thành viên, xâm nhập Lào Cai và Yên Bái ngày 21/9/1967 và có nhiệm vụ “tiến hành phá hoại và thu thập tin tình báo”. Theo hồ sơ, Red Dragon hoạt động “rất kém hiệu quả” và “tình trạng an ninh của toán là đáng ngờ ngay sau khi có buổi liên lạc điện đài đầu tiên”. Tuy nhiên, Red Dragon liên lạc đến 1969 thì mất dấu vết.

Trithuc Online

Previous articleTrận tử thủ Sevastopol
Next articleBí mật về Nàng Hannah Hà Nội

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here