chien tranh tinh bao
cac don vi biet kich nguoi thuong

Đến cuối mùa hè 1962, CIA tiếp tục thưc hiện các phi vụ thả biệt kích mới bằng đường biển, tấn công các mục tiêu của Bắc Việt Nam, nhưng cũng không thu được nhiều kết quả.Để thực hiện các nhiệm vụ đặc biệt, Hải quân Mỹ bàn giao 2 chiếc tàu tuần tiễu phóng thủy lôi PT-810, PT-811 cho Trung tâm hành quân biển (Marops, Maritime Operation) và được đổi tên thành PTF-1 và PTF-2. CIA đã đặt mua hai chiếc tàu Nasty của Na Uy, đem về đặt tên là PTF-3 và PTF-4 và thuê 3 thủy thủ Na Uy có biệt danh là “Viking” đến Đà Nẵng trong 6 tháng.

>> Xem Cuộc chiến tranh không quy ước Phần 1

>> Xem Cuộc chiến tranh không qui ước Phần 3

Ngày 15/12/1962, một chiếc PTF hướng ra biển Bắc Bộ, đem theo toán người nhái Neptune, nhưng đã không đến được mục tiêu vì lạc hướng phải quay về Đà Nẵng. Ngày 14/1/1963, CIA cho thực thi 2 phi vụ cùng một lúc. Một chiếc tàu đổ biệt kích xuống bãi biển gần thị xã Đồng Hới, chiếc khác đổ ở cửa Ròn thuộc huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Toán biệt kích biệt danh Zeus tấn công Đồng Hới bằng cách đặt dàn hỏa tiễn nhỏ, lắp kíp nổ hẹn giờ do CIA chế tạo, hướng vào nhà máy rồi rút êm trở lại chiếc Swift. Trước khi quay về, họ còn thả xuống biển thêm mấy thùng truyền đơn tuyên truyền chống phá chế độ Bắc Việt.

Nhóm biệt kích Charon đến mục tiêu chậm mất mấy giờ đồng hồ rồi xuống thuyền cao su hướng về cửa Ròn sau đó bơi vào bờ theo từng cặp. Một cặp sẽ bơi vào bờ phía bắc, cặp khác đến bờ phía nam cửa sông Gianh. Tuy nhiên, do lòng sông cạn, nhiều bùn, hai người nhái sợ người bị người trên tàu đi ra trông thấy nên vội vã bơi trở lại chiếc thuyền cao su đang đợi ở cửa biển. Phải đến gần tối, phát hiện có đèn hiệu chiếu ra từ bờ chiếu ra, thuyền trưởng liều mạng lái chiếc Swift chạy vào bờ, vớt hai người nhái rồi hướng tàu về căn cứ xuất phát ở Đà Nẵng.Cuối năm 1963, hoạt động của các nhóm biệt kích của Việt Nam Cộng hòa bị gián đoạn vì phải đợi một kế hoạch từ Nhà Trắng. Mãi đến ngày 26/10/1963, Tổng thống Johnson mới cho phép thực hiện Kế hoạch OPLAN34A tại Nam Việt Nam. Có lẽ, đây là kế hoạch về chiến tranh Việt Nam bị “nằm trong bào thai” Nhà Trắng lâu nhất.

Kế hoạch OPLAN34A đã bị “ngáng chân” như thế nào?

Ngày 9/9, Maxwell Taylor, Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Hoa Kỳ đã phê duyệt Kế hoạch OPLAN34A (gọi tắt là Kế hoạch 34A). Trong khi đang chờ các điều kiện thuận lợi để báo cáo, phê duyệt theo quy trình của Bộ Quốc phòng và Tổng thống Mỹ thì một lần nữa, kế hoạch 34A bị “ngáng chân”.

chien tranh tinh bao
Tham mưu trưởng liên quân – Maxwell Taylor

Từ tháng 9/1963, tình hình chính trị ở Nam Việt Nam đã đạt đến đỉnh điểm khủng khoảng. Điều này khiến cho Nhà Trắng đau đầu tìm kế sách giải quyết. Hơn nữa, giả sử Maxwell Taylor có muốn nhanh chóng triển khai các chương trình theo đề xuất của Bộ chỉ huy quân sự Thái Bình Dương thì MACV cũng không có bất kỳ một tổ chức bán quân sự nào để thực hiện nhiệm vụ này. Bởi Ngô Đình Diệm không quan tâm đến đề nghị này vì còn mải lo lắng củng cố quyền lực, chống đỡ khủng hoảng chính trị. Đây là điều trái ngược với những gì mà chính quyền Kenedy tính toán, mong đợi.

Chưa hết, sự kiện Ngô Đình Diệm bị ám sát vào ngày 1/11/1963 đã khiến cho việc phê duyệt kế hoạch 34A lại bị chậm. Cuối cùng thì vào ngày 20/11/1963, Kế hoạch 34A của Bộ chỉ huy quân sự Thái Bình Dương mới được đưa vào chương trình nghị sự tại một cuộc họp đặc biệt về Việt Nam tổ chức tại Honolulu, do McNamara chủ trì.

Cũng phải nói thêm rằng, ở giai đoạn này, các thất bại trong chương trình tổ chức lực lượng đặc biệt xâm nhập miền Bắc Việt Nam không mang lại kết quả đã khiến cho quan hệ giữa CIA và MACV căng thẳng, nhất là những thất bại xung quanh chiến dịch “Switchback”. Từ những thất bại ấy, chính quyền Kenedy đưa ra kết luận rằng, CIA không đủ khả năng hoạt động chống lại Hà Nội. McNamara cho rằng, quân đội có thể mang lại kết quả tốt hơn khi nỗ tổ chức các hoạt động ngầm rộng khắp, chứ không hạn hẹp theo cách mà CIA đã thực hiện. Trước những lời trì trích sâu cay, Colby đã phát biểu và cho rằng, cần bổ sung thêm nguồn lực thì sẽ có thể làm thay đổi đáng kể tình thế. Ông ta kết luận cay đắng rằng, hoạt động ngầm chống lại Bắc Việt Nam ở bất kể quy mô nào đều không thể thành công. Và chính điều này đã khiến cho ông ta đưa ra quyết định, giới hạn các hoạt động ngầm trong phạm vi chiến tranh tâm lý khi giữ cương vị Cục trưởng Cục Viễn Đông của CIA trước đây.

Trái lại, McNamara tin rằng, quân đội đã có cái mà họ cần: Nguồn lực lực lượng, học thuyết về chiến tranh đặc biệt để gây sức ép tổng lực với Hà Nội. Ông ta khẳng định, một nỗ lực ngầm với quy mô lớn sẽ tạo ra hoảng loạn bên trong Bắc Việt Nam và buộc Hồ Chí Minh ngừng ủng hộ hoạt động lật đổ ở miền Nam. Colby bác lại: “Thưa ngài Bộ trưởng, tôi đã nghe những gì ngài nói, nhưng quả thật nó không mang lại kết quả. Hoạt động ngầm sẽ không mang lại kết quả trong kiểu xã hội này”. Như vậy, Colby đã đầu hàng.

Sau này Colby đã trả lời phỏng vấn báo chí: “Thái độ chung của phía quân sự là CIA làm quá ít và quá ì ạch. Một nhúm điệp viên, vài chuyến bay trên bầu trời miền Bắc không phản ánh hết sức mạnh của Mỹ. Vai trò của CIA mới chỉ là hỗ trợ và cung cấp cho người Việt Nam tự thi hành nhiệm vụ. Quan điểm của McNamara là CIA “chỉ làm hời hợt mà không thật sự đưa một số lượng lớn vào Bắc Việt Nam đến mức có thể tạo ra tác động”.

Kết luận số 273 của Johnson

Cho dù tranh luận gay gắt đến đâu thì cuối cùng các thành viên tham dự Hội nghị ở Honolulu cũng đồng ý với kế hoạch chống phá Hà Nội của Hội đồng an ninh quốc gia. Tổng thống Johnson phê duyệt Kết luận số 273 vào ngày 26/10, tức là sau 4 ngày mà Kenedy bị ám sát.

Ở Sài Gòn, Herb Weisshart được Phó trung tâm CIA giao cho nhiệm vụ giúp hoàn tất bản kế hoạch CIA-MACV. Kế hoạch 34A đưa ra hàng loạt các hoạt động ngầm phong phú và đa dạng nhằm quấy nhiễu Bắc Việt Nam.

Nó đặt ra 5 loại hình hoạt động lớn:

        •  Thứ nhất là việc thu thập tình báo về Bắc Việt Nam. Những tin tức này được thu thập thông qua việc cài cắm điệp viên và thông qua các biện pháp điện tử, thu tin và viễn thông.
        •  Thứ hai, hoạt động chiến tranh tâm lý nhằm vào cả hai mục tiêu là giới lãnh đạo và dân chúng Việt Nam để khai thác tối đa tác động và tạo ra sự chia rẽ.
        •  Thứ ba, là tổ chức các hoạt động bán quân sự chuyên sâu được vạch ra để làm cho Hà Nội ý thức được tính nghiêm trọng và giá phải trả cho sự tiếp tục dính líu vào Lào và Nam Việt Nam. Các hoạt động này bao gồm việc phá hoại các cơ sở kinh tế và an ninh quan trọng của Bắc Việt Nam. Nếu Hà Nội không bị thuyết phục thì sẽ có “các hành động trả đũa nặng nề hơn”.
        •  Thứ tư là thúc đẩy việc hình thành một phong trào chống đối từ trong lòng Bắc Việt Nam. Hoạt động này được coi là khía cạnh chủ chốt của Kế hoạch 34A, nhằm mang lại sức ép hữu hiệu, buộc giới lãnh đạo Hà Nội phải đánh giá lại và chấm dứt chính sách xâm lược của họ”. Các nhà vạch kế hoạch của MACV và CIA tin rằng, đây là chìa khoá của cả kế hoạch, thúc đẩy phong trào chống đối là cách để làm tăng “nhiệt độ” ở Hà Nội.
        •  Cuối cùng là hoạt động phá hoại thông qua việc tập kích đường không và đường biển cùng với hoạt động thám báo phối hợp với không kích nhằm vào Bắc Việt Nam.

Cũng xin phải nói thêm rằng, ở giai đoạn đầu, Kế hoạch 34A dự kiến kéo dài một năm chia ra làm ba giai đoạn, mỗi giai đoạn bốn tháng theo hướng dần gia tăng cường độ. Để thực hiện kế hoạch cần phải hình thành một bộ máy, mặc dầu chưa ai rõ tổ chức đó sẽ như thế nào.

Ngày 21/12/1963, Tổng thống Johnson giao cho một Uỷ ban liên bộ nghiên cứu Kế hoạch 34A để “chọn ra những hoạt động ít rủi ro nhất”. Chủ tịch uỷ ban là Thiếu tướng Krulak, trợ lý đặc biệt của Lầu Năm Góc về chống bạo loạn và hoạt động đặc biệt. Ngày 2/1/1964, Uỷ ban này chọn ra những hoạt động ít nguy hiểm nhất để tiến hành và kiến nghị giai đoạn một của hoạt động ngầm chống lại Bắc Việt Nam bắt đầu vào 1/2/1964.

chien tranh viet nam
BTQP Mcnamara và TT Mỹ Johnson

Vào giữa tháng 1/1964, Lyndon Johnson phê chuẩn kiến nghị của McCone, McNamara, Rusk, và Bundy được nêu trong báo cáo của Uỷ ban Krulak. Chương trình hành động của Kế hoạch 34A bao gồm “tổng cộng 72 loại hoạt động và nếu được thực hiện sẽ có 2.962 điệp vụ riêng biệt được tiến hành trong 12 tháng đầu tiên. Trong số 72 loại hoạt động đó, có 33 loại được phê duyệt cho thực hiện ở giai đoạn một”.

Như vây, phải mất tới 3 năm từ khi Kenedy chỉ thị thì Mỹ mới có một kế hoạch hành động để thực hiện mong muốn chống phá Hà Nội bằng lực lượng bí mật một cách hệ thống, quy mô. Ngày 24/1/1964, Bộ chỉ huy MACV ở Sài Gòn ra chỉ thị số 6, thành lập một tổ chức hết sức bí mật để tiến hành các hoạt động ngầm. Tổ chức này mang một cái tên rất giản dị: “Nhóm nghiên cứu và quan sát” thuộc MACV và thường được biết đến dưới cái tên viết tắt là MACVSOG, hay đơn giản hơn là SOG.

Sau khi phê chuẩn Kế hoạch 34A, Nhà Trắng thúc ép SOG triển khai các hoạt động chống phá Hà Nội bằng lực lượng ngầm. SOG đã rất vất vả để triển khai mà không được sự phối hợp tận tình của CIA.

“Tiếp máu” cho biệt kích Sài Gòn

Đại tá Clyde Russell là người được chỉ định lãnh đạo MACVSOG (SOG) từ tháng 1/1964. Tuy nhiên, CIA bàn giao “gia tài” cho SOG rất nghèo nàn. Nó chỉ gồm: 4 toán biệt kích, một điệp viên đơn tuyến đã xâm nhập vào miền Bắc; một số phi công quốc dân đảng phục vụ cho các chuyến bay tung gián điệp và tiếp tế; một vài mạng liên lạc; một số cơ sở vật chất phục vụ hoạt động trên biển ở Đà Nẵng; và một chương trình chiến tranh tâm lý mới được thúc đẩy…. Điều này khiến Russell thất vọng.

biet kich my
MAC- SOC

Trên cơ sở “nguồn vốn” huy động được và những toan tính trong thực hiện Kế hoạch 34A, Russell tổ chức SOG thành bốn bộ phận nghiệp vụ chủ yếu: Mạng lưới điệp viên và chương trình đánh lạc hướng; tập kích trên biển; chiến tranh tâm lý và hoạt động thám báo qua biên giới chống phá đường mòn Hồ Chí Minh.Để đạt mục đích, SOG đặt mật danh cho toàn bộ chiến dịch chống Hà Nội là “Footboy”. Mỗi một bộ phận lại có một mật danh khác. Ví dụ, việc cài cắm và chỉ đạo các toán điệp viên hoạt động lâu dài mang tên “Timberwork”. Nhưng sau đó Timberwork cũng bao gồm cả các toán biệt kích ngắn hạn và vào cuối năm 1967 được giao điều hành chương trình rất phức tạp nhằm đánh lừa miền Bắc có mật danh là Forae. Đây là một thủ đoạn nhằm làm cho Hà Nội tin rằng nguy cơ bị lật đổ ở trong nước là nghiêm trọng hơn nhiều so với những gì họ biết.

Hoạt động trên biển mang mật danh là “Plowman”. Những hoạt động này bao gồm nhiều hoạt động bán quân sự và tâm lý. “Hulidor” là mật danh của hoạt động chiến tranh tâm lý chống lại miền Bắc. Hoạt động này bao gồm nhiều kỹ thuật tâm lý chiến khác nhau.

Tri thuc Online (Theo kien thuc)

Previous articleCuộc chiến tranh không qui ước – (P1)
Next article10 Trận đánh ác liệt nhất Thế chiến thứ II

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here


Notice: amp_has_paired_endpoint was called incorrectly. Function called while AMP is disabled via `amp_is_enabled` filter. The service ID "paired_routing" is not recognized and cannot be retrieved. Please see Debugging in WordPress for more information. (This message was added in version 2.1.1.) in /var/www/vhosts/trithuconline.net/httpdocs/wp-includes/functions.php on line 5313